(Thanh tra PCTN) - Ngày 30/6/2009, Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam đã có Quyết định số 950/2009/QĐ-CTN về việc phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng (sau đây gọi tắt là Công ước). Căn cứ Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005, sau khi thống nhất với Bộ Ngoại giao, Văn phòng Chính phủ và Văn phòng Chủ tịch nước, Thanh tra Chính phủ thông báo và giới thiệu những thông tin về quá trình đàm phán, xây dựng Công ước, phân tích một số nội dung cơ bản của Công ước, việc bảo lưu và một số yêu cầu nội luật hoá, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong việc triển khai, thực hiện Công ước.
I. QUÁ TRÌNH ĐÀM PHÁN, KÝ KẾT VÀ PHÊ CHUẨN CÔNG ƯỚC
1. Quá trình ra đời của Công ước và sự tham gia của Việt Nam
Trong những năm gần đây, cùng với xu thế toàn cầu hoá, tham nhũng ngày càng lan rộng và trở thành vấn đề nhức nhối, đe doạ nghiêm trọng đến tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của nhiều quốc gia trên thế giới. Quan chức tham nhũng ở quốc gia này thường chọn quốc gia khác để che dấu tài sản hoặc lẩn tránh sự trừng phạt của pháp luật khi bị phát hiện. Vì vậy, việc hình thành một khuôn khổ pháp lý quốc tế cho sự hợp tác giữa các quốc gia trên phạm vi quốc tế để ngăn chặn các hành vi tham nhũng và những tác hại của các hành vi này là một yêu cầu bức thiết của cả cộng đồng quốc tế. Trước bối cảnh đó, ngày 4/12/2001, Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua Nghị quyết số 55/61 thành lập Uỷ ban lâm thời về đàm phán soạn thảo Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng.
- Từ tháng 2/2002 đến tháng 10/2003, Uỷ ban soạn thảo Công ước đã họp 7 phiên với sự tham dự của trên 100 quốc gia và gần 30 tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ để thảo luận và xây dựng dự thảo Công ước. Được phép của Thủ tướng Chính phủ, đoàn đàm phán liên ngành của Việt Nam đã tham dự đủ các phiên họp của Uỷ ban để tham gia thảo luận và xây dựng dự thảo Công ước.
- Tại Nghị quyết số 57/169 ngày 18/12/2002, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã chấp nhận đề nghị của Chính phủ Mê-hi-cô về việc đăng cai Hội nghị chính trị cấp cao về ký kết Công ước tại Thành phố Mêrida từ ngày 9 đến ngày 11/12/2003. Hội nghị có 126 nước tham gia, trong đó, nước chủ nhà Mê-hi-cô tham gia cấp nguyên thủ quốc gia, đại đa số các nước cử đoàn do cấp bộ trưởng hoặc thứ trưởng làm trưởng đoàn. Tham dự Hội nghị với tư cách quan sát viên gồm đại diện các cơ quan chuyên môn của Liên hợp quốc, 90 tổ chức quốc tế, tổ chức khu vực và tổ chức phi chính phủ.
- Công ước là một văn bản pháp lý quốc tế quan trọng được nhiều quốc gia và các tổ chức quốc tế quan tâm, tạo cơ sở cho việc hợp tác có hiệu quả trong phòng ngừa và chống tham nhũng. Các quy định của Công ước về cơ bản có nội dung phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế, trong đó có nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia, không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác, phù hợp với tinh thần và nội dung của Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia mà Việt Nam đã ký tháng 12 năm 2000; không trái với chủ trương, đường lối và luật pháp Việt Nam về chống tham nhũng.
Theo đề nghị của Thanh tra Nhà nước (nay là Thanh tra Chính phủ), Thủ tướng Chính phủ đã quyết định cử Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam tham dự Hội nghị chính trị cấp cao về ký Công ước gồm: đại diện Bộ Ngoại giao, Văn phòng Chính phủ và Thanh tra Chính phủ. Tại Hội nghị, Tổng Thanh tra, thừa uỷ quyền của Thủ tướng Chính phủ đã phát biểu trên diễn đàn và ký Công ước cùng đại diện của 95 quốc gia khác, đồng thời nộp văn kiện bảo lưu về thủ tục giải quyết tranh chấp bắt buộc (Khoản 2, Điều 66 ).
Việc ký Công ước thể hiện quyết tâm của Việt Nam trong việc ngăn chặn và từng bước đẩy lùi tệ nạn tham nhũng, nâng cao uy tín và vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế. Trước mắt, Việt Nam sẽ gặp một số khó khăn do hệ thống pháp luật còn thiếu một số quy định mà Công ước đòi hỏi. Tuy nhiên, những vấn đề này sẽ được khắc phục trong quá trình sửa đổi, bổ sung một số văn bản pháp luật có liên quan trong tương lai.
Hội nghị chính trị cấp cao ký Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng đã được các nước tham gia Hội nghị đánh giá là một thành công lớn, đặc biệt là số lượng nước tham gia đông và số nước ký Công ước ngay tại hội nghị là lớn nhất so với các Hội nghị ký các Điều ước quốc tế khác.
Sau ngày 11/12/2003, Công ước được để ngỏ cho các nước ký tại trụ sở Liên hợp quốc ở Niu-oóc đến ngày 9/12/2005, Công ước có hiệu lực khi được 30 nước phê chuẩn.
2. Quá trình nghiên cứu, đề xuất phê chuẩn Công ước
Thực hiện sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công văn số 56/VPCP-V.I ngày 06 tháng 01 năm 2004 của Văn phòng Chính phủ, Thanh tra Chính phủ chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành hữu quan tiến hành nghiên cứu sâu nội dung Công ước, rà soát hệ thống pháp luật, đánh giá thuận lợi, khó khăn của Việt Nam để đề xuất với Chính phủ việc phê chuẩn và thực hiện Công ước.
- Để thực hiện nhiệm vụ này, ngày 13 tháng 4 năm 2004, Tổng Thanh tra đã có Quyết định số 488/QĐ-TTCP, thành lập Tổ Tư vấn liên ngành gồm các chuyên gia của 10 bộ, ngành. Quán triệt quan điểm, đường lối của Đảng được thể hiện trong các văn kiện, nghị quyết, nhất là trong Nghị quyết TW 3 khoá X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí; Căn cứ Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005, sau hơn 4 năm, Tổ tư vấn dưới sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ, sự phối hợp chặt chẽ của các bộ, ngành đã nghiên cứu, rà soát, đánh giá khả năng đáp ứng của pháp luật Việt Nam, đánh giá khả năng đáp ứng và sự sẵn sàng thực thi Công ước của các bộ, ngành và cả hệ thống chính trị; dự báo các thuận lợi, khó khăn và các tác động của Công ước sau khi Việt Nam phê chuẩn.
- Ngày 06/5/2008, Thanh tra Chính phủ đã tổ chức Hội thảo với sự tham dự của 18 bộ, ngành và cơ quan hữu quan nhằm thống nhất ý kiến lần cuối cùng về Hồ sơ phê chuẩn Công ước. Sau đó, Thanh tra Chính phủ đã có văn bản xin ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp và ý kiến chính thức của các bộ, ngành về hồ sơ phê chuẩn Công ước.
- Ngày 10/6/2009, Chính phủ đã có Tờ trình số 104/TTr-CP đề nghị Chủ tịch nước phê chuẩn Công ước.
- Ngày 30/6/2009, Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam đã có Quyết định số 950/2009/QĐ-CTN về việc phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng.
II. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CÔNG ƯỚC
Công ước gồm có: Lời nói đầu, 8 chương và 71 điều, cụ thể:
Chương I: Những quy định chung.
Chương II: Các biện pháp phòng ngừa.
Chương III: Hình sự hoá và thực thi pháp luật.
Chương IV: Hợp tác quốc tế.
Chương V: Thu hồi tài sản.
Chương VI: Hỗ trợ kỹ thuật và trao đổi thông tin.
Chương VII: Các cơ chế thi hành công ước.
Chương VIII: Các điều khoản cuối cùng.
Lời nói đầu của Công ước ghi nhận tính chất nguy hiểm, mức độ nghiêm trọng và những hậu quả tiêu cực của tham nhũng đối với các giá trị dân chủ, nguyên tắc pháp quyền và sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia cũng như cộng đồng quốc tế. Vì vậy, các quốc gia cần quyết tâm phòng ngừa, phát hiện và xử lý tham nhũng bằng hệ thống các biện pháp toàn diện, đa dạng và hữu hiệu. Đồng thời, các quốc gia thành viên Công ước cần tăng cường hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng thông qua hợp tác điều tra, truy tố, trao đổi thông tin, thu hồi tài sản, trợ giúp kỹ thuật, gồm cả hỗ trợ tăng cường năng lực xây dựng thể chế.
Chương I: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
1. Mục đích của Công ước
Công ước được xây dựng nhằm mục đích chung nhất là tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng của các quốc gia thông qua hệ thống các biện pháp phòng, chống hữu hiệu Mục đích này được quy định tại điểm a Điều 1 Công ước:
“Thúc đẩy và tăng cường các biện pháp nhằm đấu tranh phòng, chống tham nhũng có hiệu lực, hiệu quả hơn”.
Bên cạnh các biện pháp tổng thể, Công ước chú trọng đặc biệt đến các biện pháp nhằm thúc đẩy hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng. Điều này thể hiện ở việc Công ước đã dành 3 chương quan trọng gồm Chương III: Hình sự hoá và thực thi pháp luật; Chương IV: Hợp tác quốc tế, Chương V: Thu hồi tài sản để quy định vấn đề này. Điểm b Điều 1 Công ước nêu rõ mục đích của Công ước là: “Thúc đẩy, tạo điều kiện và hỗ trợ hợp tác quốc tế và trợ giúp kỹ thuật trong phòng, chống tham nhũng, bao gồm cả thu hồi tài sản”
Ngoài ra, trên cơ sở nhận thức được vai trò thiết yếu của tính minh bạch, hiệu quả trong quản lý đối với việc phòng ngừa, phát hiện tham nhũng, Công ước coi việc “thúc đẩy liêm chính, chế độ trách nhiệm và quản lý đúng đắn việc công và tài sản công” - điểm c Điều 1 là mục tiêu quan trọng cần thực hiện.
2. Phạm vi của Công ước
Theo quy định tại Điều 3 Công ước sẽ áp dụng cho tất cả các giai đoạn của công tác chống tham nhũng gồm: phòng ngừa, điều tra, truy tố tham nhũng và việc phong toả, tạm giữ, tịch thu và hoàn trả tài sản có được do tham nhũng. Điều này phản ánh mong muốn của cộng đồng quốc tế trong việc xây dựng, thực thi Công ước như một công cụ phòng, chống tham nhũng toàn diện, hệ thống, đáp ứng được các yêu cầu của cuộc đấu tranh chống tham nhũng của mỗi quốc gia cũng như từng khu vực và trên toàn thế giới.
3. Vấn đề bảo vệ chủ quyền quốc gia
Để đảm bảo hợp tác quốc tế trong phòng, chống tham nhũng thật sự vì mục đích phòng ngừa, phát hiện, xử lý và khắc phục hậu quả tham nhũng, tránh sự lạm dụng can thiệp nội bộ, xâm phạm chủ quyền, lãnh thổ của quốc gia, Điều 4 Công ước quy định: “Các quốc gia thành viên Công ước này thực hiện nghĩa vụ của mình theo quy định của Công ước theo cách thức phù hợp với nguyên tắc về bình đẳng chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia và không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác”.
Chương II: CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA THAM NHŨNG
1. Cơ quan phòng, chống tham nhũng
Điều 6 và Điều 36 Công ước quy định việc thành lập cơ quan (lực lượng phòng chống tham nhũng chuyên trách) nhằm thực thi, giám sát và phối hợp việc thi hành chính sách và hành động chống tham nhũng. Các quốc gia thành viện cần đảm bảo sự độc lập cần thiết cho cơ quan nói trên, trong đó có việc cung cấp phương tiện vật chất, đội ngũ cán bộ chuyên trách cũng như đào tạo đội ngũ cán bộ này để họ có thể thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình.
2. Khu vực công
Nhằm phòng ngừa tham nhũng một cách tích cực, Điều 7 Công ước quy định các quốc gia thành viên Công ước, khi thích hợp và trên cơ sở phù hợp với pháp luật quốc gia, cần nỗ lực ban hành, duy trì và củng cố chế độ tuyển dụng, thuê, sử dụng, đề bạt và hưu trí đối với công chức dựa trên các nguyên tắc hiệu quả, minh bạch và tiêu chí khách quan như khả năng xuất sắc, công minh và năng lực.
2.1. Quy tắc ứng xử
Trong phòng, chống tham nhũng, việc đảm bảo và tăng cường tính liêm chính, trung thực và trách nhiệm của đội ngũ công chức đóng vai trò rất quan trọng. Các quốc gia thành viên Công ước, trên cơ sở phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc gia, cần áp dụng các biện pháp nhằm thúc đẩy và bảo đảm việc thực hiện các chức năng công được chính xác, chính trực và đúng đắn. Trong đó việc ban hành và áp dụng những chuẩn mực hoặc quy tắc xử sự đối với công chức được coi là một biện pháp hữu hiệu. Đồng thời để hạn chế xung đột lợi ích và gia tăng khả năng kiểm soát, các quốc gia thành viên cần xem xét áp dụng các biện pháp yêu cầu công chức báo cáo cơ quan có thẩm quyền những hoạt động, công việc, các khoản đầu tư, tài sản, quà tặng, hoặc các lợi ích khác tiềm ẩn xung đột lợi ích có thể ảnh hưởng tới việc thực hiện chức năng công của công chức đó.
2.2. Mua sắm công và quản lý tài sản công
Trên cơ sở nhận thức về tính chất dễ nảy sinh tham nhũng của hoạt động mua sắm công, khoản 1 Điều 19 Công ước quy định các quốc gia thành viên tiến hành các bước đi cần thiết nhằm xây dựng cơ chế mua sắm công minh bạch, cạnh tranh và tiêu chí khách quan trong khâu ra quyết định, giúp phòng ngừa tham nhũng có hiệu quả.
2.3. Báo cáo công khai
Minh bạch hoá quản lý hành chính nhà nước là một nội dung, yêu cầu quan trọng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Điều 10 Công ước quy định mỗi quốc gia thành viên, trên cơ sở phù hợp với pháp luật quốc gia, áp dụng các biện pháp cần thiết để tăng cường tính công khai, minh bạch trong quản lý hành chính công, bao gồm tổ chức, quá trình thực hiện chức năng và ra quyết định.
2.4. Các biện pháp liên quan đến truy tố và xét xử
Xét xử các tội phạm tham nhũng là một biện pháp xử lý tham nhũng hữu hiệu. Bên cạnh đó, hoạt động xét xử còn có tác dụng tích cực trong phòng ngừa. Điều 11 Công ước ghi nhận tầm quan trọng của việc đảm bảo sự độc lập trong hoạt động xét xử. Trên cơ sở phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc gia, các quốc gia thành viên cần áp dụng các biện pháp tăng cường tính liêm chính và phòng ngừa cơ hội tham nhũng đến với cán bộ toà án, trong đó có thể bao gồm việc ban hành bộ quy tắc ứng xử cho cán bộ toà án. Những biện pháp có tác dụng tương tự cũng cần được xem xét áp dụng đối với cán bộ của cơ quan công tố.
3. Khu vực tư
Do tính chất ngày càng nghiêm trọng và mức độ ảnh hưởng ngày càng lan rộng của tham nhũng trong khu vực tư, là hệ quả của việc tư nhân hoá mạnh mẽ các hoạt động trước đây vốn thuộc chức năng công như giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội…. Công ước đã ghi nhận sự cần thiết phải tăng cường các biện pháp nhằm phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng trong khu vực tư và liên quan tới khu vực tư. Điều 12 quy định các quốc gia thành viên Công ước, trên cơ sở luật pháp quốc gia, áp dụng các biện pháp phòng ngừa tham nhũng liên quan đến khu vực tư; ban hành các chế tài dân sự, hành chính hoặc hình sự có hiệu lực đối với các hành vi vi phạm.
4. Sự tham gia của xã hội
Xã hội công dân, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức cộng đồng, báo chí là lực lượng quan trọng trong phòng, chống tham nhũng. Sự tham gia chủ động, tích cực của xã hội đã mang lại những kết quả rất tích cực trong thực tế phòng chống tham nhũng. Theo quy định tại Điều 13 Công ước, các quốc gia thành viên cần áp dụng các biện pháp nhằm nâng cao nhận thức của công chúng về tham nhũng, thúc đẩy sự tham gia của các cá nhân, tổ chức ngoài khu vực công vào công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng.
5. Các biện pháp chống rửa tiền
Chống rửa tiền là một biện pháp phòng ngừa, phát hiện và khắc phục hậu quả tham nhũng một cách hữu hiệu. Công ước dành nhiều điều khoản quy định trực tiếp và gián tiếp các biện pháp mà các quốc gia thành viên cần áp dụng nhằm ngăn ngừa và chống rửa tiền. Điều 14 quy định các biện pháp chống rửa tiền mang tính định hướng và phòng ngừa là chủ yếu. Theo đó, các quốc gia cần thiết lập cơ chế giám sát toàn diện đối với ngân hàng, tổ chức tài chính phi ngân hàng, các cơ quan khác đặc biệt dễ phát sinh rửa tiền, nhằm ngăn chặn, phát hiện mọi hình thức rửa tiền; áp dụng các biện pháp khả thi nhằm kiểm soát, phát hiện việc di chuyển tiền mặt và tài sản qua biên giới nhưng không được gây trở ngại đối với các dòng vốn hợp pháp, có thể bao gồm việc yêu cầu báo cáo về việc chuyển qua biên giới những lượng tiền mặt lớn và vật có giá trị; tăng cường hợp tác nhằm đấu tranh chống rửa tiền.
Chương III: HÌNH SỰ HOÁ VÀ THỰC THI PHÁP LUẬT
1. Hình sự hoá
Công ước chống tham nhũng Liên hợp quốc đặt ra cho các quốc gia thành viên nghĩa vụ hình sự hoá các quy định từ Điều 15 đến Điều 25 của Công ước gồm: hối lộ công chức quốc gia; hối lộ công chức nước ngoài hoặc tổ chức quốc tế công; tham ô, biển thủ hoặc các dạng chiếm đoạt tài sản khác bởi công chức; lạm dụng ảnh hưởng, lạm dụng chức năng để trục lợi; hối lộ trong khu vực tư; biển thủ tài sản trong khu vực tư; che dấu tài sản; cản trở hoạt động tư pháp. Đối với việc hình sự hoá hành vi làm giàu bất hợp pháp và hành vi tẩy rửa tài sản do phạm tội mà có, các quốc gia thực hiện dựa trên cơ sở phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật quốc gia.
2. Trách nhiệm của pháp nhân
Thực tế cho thấy số các vụ việc tham nhũng có sự dính líu của pháp nhân chiếm một tỷ lệ tương đối cao, đặc biệt là các vụ việc có liên quan đến các giao dịch thương mại hoặc các hoạt động cấp phép… Pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới đã quy định trách nhiệm hình sự đối với cá nhân phạm các tội về tham nhũng hoặc các tội phạm liên quan. Tuy nhiên, việc phát hiện, điều tra, truy tố và xét xử các vụ việc tham nhũng liên quan đến pháp nhân vẫn gặp nhiều khó khăn, nhiều lúc dẫn đến tình trạng xử lý thiếu triệt để, không hiệu quả. Điều 26 Công ước quy định các quốc gia thành viên áp dụng các biện pháp cần thiết trên cơ sở phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc gia, quy định trách nhiệm của pháp nhân khi thực hiện các tội phạm quy định tại Công ước.
3. Phong toả, tạm giữ, tịch thu
Trên nguyên tắc mọi tài sản do hành vi tham nhũng mà có đều phải bị thu hồi, Điều 31 Công ước đã quy định các quốc gia thành viên, trong phạm vi rộng nhất được pháp luật các quốc gia cho phép, ban hành các quy định cần thiết cho phép tịch thu tất cả tài sản có nguồn gốc từ hành vi phạm tội theo quy định tại Công ước, kể cả trong trường hợp tài sản đó bị biến đổi, lẫn lộn với tài sản khác và các lợi ích thu nhập phát sinh từ tài sản tham nhũng. Đồng thời, để đảm bảo mục đích tịch thu, Công ước yêu cầu các quốc gia thành viên áp dụng các biện pháp phong toả và tạm giữ khi cần thiết.
4. Bảo vệ nhân chứng, chuyên gia và nạn nhân
Nhân chứng, chuyên gia, nạn nhân - những người tham gia cung cấp chứng cứ về hành vi tham nhũng có thể sẽ phải đứng trước nguy cơ bị đe doạ, trù dập và trả thù. Vì vậy, bảo vệ an toàn thân thể, địa vị chính trị, nghề nghiệp cho nhân chứng, chuyên gia, nạn nhân cũng như người thân của họ có ý nghĩa quan trọng, giúp thu thập được các chứng cứ xác đáng, bảo đảm hiệu quả của hoạt động tố tụng.
5. Bảo vệ người tố cáo
Bảo vệ người tố cáo cũng là một yêu cầu quan trọng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Việc có các biện pháp bảo vệ hữu hiệu đối với người tố cáo sẽ khuyến khích và bảo đảm tố cáo tích cực, tránh được sự tác động tiêu cực từ phía người tố cáo làm cản trở hoặc sai lệch quá trình phát hiện, điều tra, xử lý hành vi tham nhũng. Điều 33 Công ước quy định nghĩa vụ chung đối với các quốc gia thành viên về việc áp dụng các biện pháp cần thiết nhằm bảo vệ người tố cáo thiện ý và có căn cứ hợp lý trước những “đối xử bất công”.
6. Bí mật ngân hàng
Điều 40 công ước quy định nghĩa vụ của các quốc gia thành viên phải đảm bảo rằng, trong quá trình điều tra hình sự đối với các tội phạm quy định tại Công ước, có cơ chế thích hợp quy định trong hệ thống pháp luật quốc gia nhằm khắc phục các trở ngại có thể nảy sinh do phải tuân thủ các quy định pháp luật bí mật về ngân hàng.
7. Quyền tài phán
Việc tăng cường hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng theo các quy định của Công ước tiềm ẩn nguy cơ các điều khoản của Công ước bị lợi dụng để can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác. Để loại trừ nguy cơ này, Công ước đã rất chú trọng vấn đề bảo vệ chủ quyền quốc gia. Sau khi đề ra nguyên tắc chung về bình đẳng chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ và không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác, Công ước đã dành Điều 42 để quy định chi tiết về vấn đề quyền tài phán.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 42, quốc gia thành viên của Công ước quy định quyền tài phán của mình đối với những tội phạm được quy định trên cơ sở phù hợp với Công ước khi:
(a) Tội phạm đó được thực hiện trên lãnh thổ nước mình;
(b) Tội phạm đó được thực hiện trên tầu thuyền đang treo cờ của nước mình hay máy bay được đăng ký theo luật của nước mình;
Bên cạnh đó, trên cơ sở tuân thủ Điều 4 của Công ước, quốc gia thành viên cũng có thể quy định quyền tài phán của mình khi:
(a) Tội phạm đó được thực hiện đối với một công dân nước mình;
(b) Tội phạm đó được thực hiện bởi một công dân nước mình hay bởi một người không có quốc tịch nhưng thường trú trên lãnh thổ nước mình;
(c) Tội phạm đó là một trong những tội phạm được quy định theo khoản 1điểm b, tiết (ii) Điều 23 của Công ước (Điều khoản về hình sự hoá hành vi tẩy rửa tài sản do phạm tội mà có) và được thực hiện bên ngoài lãnh thổ nước mình nhằm mục đích thực hiện một tội phạm được quy định theo khoản 1, điểm a, tiết (i) hoặc (ii) hay điểm b, tiết (i) Điều 23 của Công ước này trong phạm vi lãnh thổ nước mình;
(d) Tội phạm đó được thực hiện chống lại quốc gia mình.
Chương IV: HỢP TÁC QUỐC TẾ
1. Dẫn độ
Theo quy định tại khoản 1 Điều 44 Công ước, điều khoản về dẫn độ của Công ước được áp dụng đối với các tội phạm về tham nhũng quy định tại Công ước, khi người là đối tượng của yêu cầu dẫn độ có mặt trên lãnh thổ của quốc gia được yêu cầu, với điều kiện tội phạm làm nảy sinh yêu cầu dẫn độ là tội phạm mà cả quốc gia yêu cầu và quốc gia được yêu cầu đều quy định hình phạt.
2. Tương trợ pháp lý
Khoản 1 Điều 46 Công ước quy định: “Các quốc gia thành viên của Công ước dành cho nhau biện pháp tương trợ pháp lý rộng rãi nhất trong điều tra, truy tố và xét xử những loại tội phạm quy định trong Công ước này”.
Dự liệu được tính chất khó khăn, phức tạp của việc điều tra các vụ việc tham nhũng có sự tham gia của pháp nhân, đặc biệt là các tập đoàn đa quốc gia, khoản 2 Điều 46 công ước quy định nghĩa vụ tương trợ pháp lý ở mức độ cao nhất có thể theo các đạo luật, hiệp ước, hiệp định hoặc thoả thuận có hiệu lực khi việc cung cấp tương trợ pháp lý đó liên quan đến một pháp nhân và pháp nhân đó có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý ở quốc gia yêu cầu, căn cứ theo Điều 26 của Công ước.
3. Hợp tác thực thi pháp luật
Các quốc gia thành viên cần tăng cường hợp tác thực thi pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả phòng, chống tham nhũng.
4. Chuyển giao vụ án hình sự và liên kết điều tra
Trong tình hình tham nhũng trên thế giới diễn ra ngày càng trầm trọng, khả năng xảy ra những vụ việc tham nhũng phức tạp, quy mô lớn, liên quan và thuộc quyền tài phán của nhiều quốc gia là rất lớn. Để giải quyết có hiệu quả khó khăn này, tại Điều 47 và Điều 49 Công ước khuyến nghị các quốc gia thành viên xem xét việc chuyển giao cho nhau các vụ án hình sự hoặc thành lập cơ quan liên kết điều tra. Việc này có thể thực hiện dựa trên các hiệp định hoặc thoả thuận song phương, đa phương đã được ký kết hoặc theo thoả thuận từng vụ việc.
5. Kỹ thuật điều tra đặc biệt
Để chống tham nhũng có hiệu quả, Công ước khuyến nghị các quốc gia thành viên áp dụng các biện pháp nhằm cho phép các cơ quan chức năng sử dụng các kỹ thuật điều tra đặc biệt như giám sát điện tử và các hình thức giám sát khác, hoạt động chìm.
Chương V: THU HỒI TÀI SẢN
Thu hồi mọi tài sản, phương tiện, công cụ có được hoặc có liên quan đến tội phạm tham nhũng là một mục đích quan trọng và là nguyên tắc cơ bản của Công ước. Điều 51 Chương V quy định: “Hoàn trả tài sản theo quy định tại chương này là nguyên tắc cơ bản của Công ước này, và theo đó các quốc gia thành viên cung cấp cho nhau các biện pháp hợp tác và trợ giúp rộng rãi nhất”. Trên cơ sở đó, Công ước quy định các biện pháp toàn diện nhằm tăng cường hiệu quả thu hồi tài sản có được do hành vi tham nhũng.
Chương VI: HỖ TRỢ KỸ THUẬT VÀ TRAO ĐỔI THÔNG TIN
Nhằm thực thi có hiệu quả Công ước, góp phần tăng cường hiệu lực, hiệu quả phòng, chống tham nhũng tại từng quốc gia, khu vực và quốc tế, việc xây dựng và nâng cao năng lực, hỗ trợ kỹ thuật, tài chính và chia sẻ thông tin là những yêu cầu thiết yếu. Khoản 1 Điều 60 quy định các quốc gia thành viên, trong chừng mực cần thiết, có nghĩa vụ khởi xướng, phát triển hoặc tăng cường các chương trình đào tạo cụ thể đối với đội ngũ cán bộ chịu trách nhiệm về phòng, chống tham nhũng.
Chương VII, chương VIII: CƠ CHẾ THI HÀNH CÔNG ƯỚC VÀ CÁC ĐIỀU KHOẢN CUỐI CÙNG.
Theo quy định tại Điều 63 Công ước, Hội nghị các quốc gia thành viên Công ước là cơ chế thi hành Công ước chủ yếu. Hội nghị các quốc gia thành viên được thành lập để tăng cường năng lực và hợp tác giữa các quốc gia thành viên nhằm đạt được các mục tiêu đề ra trong Công ước và thúc đẩy, kiểm tra việc thực thi công ước. Hội nghị các quốc gia thành viên được Tổng thư ký Liên hợp quốc triệu tập kể từ ngày Công ước có hiệu lực. Kể từ đó, Hội nghị họp thường kỳ theo điều lệ và thủ tục do Hội nghị ban hành.
Hội nghị các quốc gia thành viên thống nhất hoạt động, thủ tục và phương pháp làm việc để đạt được các mục tiêu chung và các mục tiêu cụ thể.
Công ước chống tham nhũng Liên hợp quốc được mở cho tất cả quốc gia ký từ ngày 09 tháng 12 năm 2003 đến ngày 09 tháng 12 năm 2005. Công ước có hiệu lực vào ngày thứ 90 sau ngày nộp đủ 30 văn kiện phê chuẩn, chấp nhận, phê duyệt hay gia nhập (ngày 14/12/2005, Công ước chính thức có hiệu lực).
Việc sửa đổi Công ước được xem xét sau 5 năm kể từ ngày Công ước có hiệu lực. Quốc gia thành viên có thể rút khỏi Công ước bằng một thông báo gửi Tổng thư ký Liên hợp quốc. Việc rút khỏi Công ước sẽ có hiệu lực sau một năm kể từ ngày Tổng thư ký nhận được thông báo đó.
III. BẢO LƯU VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN NỘI LUẬT HOÁ ĐỂ ĐẢM BẢO THỰC THI CÔNG ƯỚC
1. Vấn đề bảo lưu theo quy định của Công ước và nội dung bảo lưu của Việt Nam
a) Nội dung bảo lưu
Khoản 3, Điều 66 của Công ước cho phép các quốc gia thành viên có thể bảo lưu Khoản 2, Điều 66 về thủ tục giải quyết tranh chấp vì đây là vấn đề được nhiều quốc gia quan tâm trong quá trình đàm phán xây dựng Công ước. Tuy nhiên, Công ước không hạn chế quyền bảo lưu các điều khoản khác của các quốc gia thành viên. Do đó, quốc gia thành viên có thể quyết định lựa chọn nội dung bảo lưu theo quy định của Công ước Viên năm 1969 về Luật Điều ước quốc tế và trên cơ sở tôn trọng mục đích, đối tượng của Công ước và phù hợp với lợi ích quốc gia; quốc gia thành viên có thể thực hiện thủ tục rút bảo lưu khi cần thiết. Việc tuyên bố bảo lưu có thể diễn ra ở thời điểm ký, phê chuẩn hoặc gia nhập Công ước.
Theo quy định của pháp luật và tập quán quốc tế, các quốc gia không cần phải bảo lưu những điều khoản mang tính tuỳ nghi hay khuyến nghị của điều ước quốc tế. Thông thường, các quốc gia cân nhắc rất kỹ nội dung bảo lưu vì bảo lưu phản ánh thiện chí chính trị của quốc gia đối với điều ước và chỉ bảo lưu những điều khoản bắt buộc của Điều ước mà điều khoản đó xung đột hoàn toàn với nguyên tắc pháp luật quốc gia hoặc quốc gia đó không thể thực hiện trong mọi trường hợp. Tuy nhiên, khi tham gia điều ước quốc tế, quốc gia thành viên có thể tuyên bố giải thích cả những quy định tuỳ nghi hoặc kiến nghị và tuyên bố giải thích này có giá trị như bảo lưu.
Tính đến ngày 25 tháng 9 năm 2008, trong tổng số 140 nước ký, phê chuẩn hoặc gia nhập Công ước, có 27 nước có bảo lưu khoản 2, Điều 66 (Trung Quốc, Mỹ, In-đô-nê-xi-a, Mianmar, …). Kế thừa nội dung bảo lưu khi Việt Nam ký Công ước, khi phê chuẩn Công ước, Việt Nam tuyên bố bảo lưu về thủ tục giải quyết tranh chấp quy định tại Khoản 2, Điều 66 của Công ước, vì: Quan điểm nhất quán của Việt Nam là những tranh chấp mà Việt Nam là một bên chỉ được đưa ra giải quyết bằng hoà giải, trọng tài hoặc toà án quốc tế trên cơ sở có sự đồng ý của tất cả các bên tranh chấp nhằm đảm bảo quyền chủ động của Việt Nam trong từng trường hợp giải quyết tranh chấp cụ thể; quyền tuyên bố không bị ràng buộc bởi thủ tục giải quyết tranh chấp này của thành viên Công ước đã được Công ước quy định tại Khoản 3, Điều 66; đây cũng là nội dung bảo lưu của hầu hết các quốc gia có bảo lưu khi ký kết, phê chuẩn hoặc gia nhập Công ước.
- Căn cứ Khoản 3, Điều 66 của Công ước, Việt Nam tuyên bố không bị ràng buộc bởi Khoản 2, Điều 66 về thủ tục giải quyết tranh chấp”.
- Căn cứ đề xuất: (1) khi ký Công ước, Việt Nam đã tuyên bố bảo lưu Khoản 2, Điều 66 của Công ước, khi phê chuẩn Công ước, Việt Nam tiếp tục kế thừa nội dung bảo lưu này; (2) việc đưa tranh chấp liên quan đến giải thích và áp dụng Công ước ra trọng tài hay toà án quốc tế cần phải có sự đồng thuận của tất cả các bên liên quan đến tranh chấp, điều này đảm bảo quyền chủ động của Việt Nam trong từng trường hợp giải quyết tranh chấp cụ thể; (3) có 28/35 quốc gia bảo lưu Khoản 2, Điều 66 của Công ước về cùng một lý do, trong đó Trung quốc và các nước ASEAN chỉ bảo lưu duy nhất quy định này.
b) Nội dung tuyên bố
- Phù hợp với nguyên tắc của pháp luật Việt Nam, Việt Nam tuyên bố không bị ràng buộc bởi các quy định về hình sự hoá hành vi làm giàu bất hợp pháp (Điều 20 Công ước) và quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân (Điều 26 Công ước)”.
Căn cứ đề xuất: (1) Tuy những quy định trên là quy định tuỳ nghi, nhưng việc bảo lưu những quy định đó là sự thận trọng cần thiết khi pháp luật Việt Nam chưa đáp ứng hoàn toàn quy định này. Mặt khác, Việt Nam có thể rút bảo lưu nội dung này khi pháp luật đã đáp ứng; (2) tham khảo nội dung bảo lưu của các nước khi phê chuẩn Công ước cho thấy Canađa tuyên bố không hình sự hoá hành vi làm giàu bất hợp pháp (Điều 20 Công ước) vì quy định này không phù hợp với Hiến pháp Canađa.
- Việt Namtuyên bốkhông áp dụngtrực tiếp các quy định của Công ước; việc thực hiện các quy định của Công ước sẽ theo nguyên tắc Hiến pháp và pháp luật thực định của Việt Nam, trên cơ sở các thoả thuận hợp tác song phương hoặc đa phương với nước khác và nguyên tắc có đi có lại.
Căn cứ Điều 44 của Công ước, Việt Nam tuyên bố không coi Công ước là cơ sở pháp lý trực tiếp về dẫn độ; Việt Nam thực hiện dẫn độ theo quy định của pháp luật Việt Nam, trên cơ sở các hiệp định về dẫn độ và nguyên tắc có đi có lại.
Căn cứ đề xuất: (1) Công ước đề cao nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia (Điều 4 Công ước); (2) Công ước cho phép quốc gia thành viên xây dựng chính sách phòng, chống tham nhũng trên cơ sở nguyên tắc Hiến pháp, pháp luật của quốc gia (Điều 5 Công ước); (3) Công ước cho phép các quốc gia áp dụng và thực hiện Công ước trên cơ sở các thoả thuận hợp tác song phương hoặc đa phương khác sau khi phê chuẩn (Điều 59 Công ước); (4) dựa trên cơ sở các nguyên tắc chung về hợp tác quốc tế trong phòng, chống tham nhũng, tương trợ tư pháp, tố tụng hình sự quy định tại các Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003; (5) tham khảo tuyên bố áp dụng Công ước của các quốc gia cho thấy: Hoa Kỳ tuyên bố không áp dụng trực tiếp các quy định của Công ước (trừ Điều 44 và Điều 46); Liên bang Nga, Canada và Hoa Kỳ tuyên bố áp dụng Công ước trên cơ sở nguyên tắc Hiến pháp và pháp luật quốc gia.
c) Về quan điểm của Việt Nam đối với nội dung bảo lưu, tuyên bố của các nước: “Việt Nam chấp nhận bảo lưu, tuyên bố của các nước tham gia ký kết, phê chuẩn hoặc gia nhập Công ước”.
Căn cứ đề xuất: (1) ở thời điểm hiện tại, nội dung các bảo lưu, tuyên bố của các quốc gia không liên quan tới lợi ích của Việt Nam; (2) quan hệ hợp tác song phương - nếu có - giữa Việt Nam với nước có bảo lưu, tuyên bố sẽ được thực hiện trên cơ sở các thoả thuận hợp tác và nguyên tắc có đi có lại như trong tuyên bố của Việt Nam (việc Việt Nam chấp nhận tuyên bố, bảo lưu của nước khác không cần thể hiện qua tuyên bố thành văn gửi Liên Hợp quốc).
2. Một số nội dung cần sửa đổi, bổ sung pháp luật thực định để thực thi Công ước
2.1. Trách nhiệm pháp nhân (Điều 26 của Công ước): Quy định này bắt buộc các quốc gia phải quy định trách nhiệm pháp lý (nói chung) đối với pháp nhân có tham nhũng nhưng cho phép các quốc gia tùy nghi quy định hình thức trách nhiệm pháp lý (hình sự, dân sự, hành chính) theo nguyên tắc của pháp luật nước mình.
Pháp luật Việt Nam đã đáp ứng được về cơ bản yêu cầu này của Công ước. Tuy nhiên, cũng cần nghiên cứu bổ sung quy định pháp nhân là chủ thể của hành vi tham nhũng vào Luật phòng chống tham nhũng.
2.2. Quy định về hối lộ trong khu vực tư (Điều 21 của Công ước): Đây là quy định tùy nghi.
Hiện nay, Luật Phòng chống tham nhũng năm 2005 chưa quy định hành vi hối lộ trong khu vực tư. Các hành vi hối lộ trong khu vực tư được Bộ luật hình sự năm 1999 quy định dưới các tội danh khác. Luật phòng chống tham nhũng cần mở rộng chủ thể của hành vi tham nhũng sang khu vực tư; bổ sung tội danh đưa, nhận hối lộ và tham ô tài sản trong khu vực tư vào Bộ luật hình sự.
2.3. Quy định về dẫn độ (Điều 44 của Công ước): Đây là quy định bắt buộc.
Việt Nam đã đáp ứng được về cơ bản yêu cầu này của Công ước. Tuy nhiên, Việt Nam không coi Công ước là cơ sở pháp lý trực tiếp về dẫn độ, mà thực hiện trên cơ sở ưu tiên áp dụng các hiệp định song phương đã được ký kết giữa Việt Nam với các nước khác có nội dung dẫn độ, phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam, theo nguyên tắc có đi có lại.
2.4. Vấn đề “giám sát” chặt chẽ tài khoản của những người đã hoặc đang giữ các chức vụ chủ chốt trong bộ máy nhà nước, thành viên trong gia đình hoặc cộng sự thân tín của họ nhằm phục vụ mục đích phát hiện các giao dịch đáng ngờ (Khoản 1, Điều 52 của Công ước): Đây là quy định bắt buộc.
Pháp luật Việt Nam đã đáp ứng về cơ bản quy định này. Cần nghiên cứu hoàn thiện quy định có liên quan đến nội dung nói trên khi bổ sung, sửa đổi Luật Phòng chống tham nhũng năm 2005, Nghị định số 37/2007/NĐ-CP ngày 9/3/2007 của Chính phủ về minh bạch tài sản, thu nhập và xây dựng Luật Phòng, chống rửa tiền.
2.5. Quy định về hợp tác quốc tế vì mục đích thu hồi tài sản do tham nhũng mà có (Chương V của Công ước với các Điều từ 51 đến 59): Bao gồm 26 yêu cầu bắt buộc và 14 yêu cầu tùy nghi, khuyến nghị.
Pháp luật Việt Nam đã đáp ứng về cơ bản các yêu cầu nói trên. Riêng các Khoản 1b, 3 và 8 của Điều 55 là các quy định bắt buộc, quy định các nội dung hợp tác quốc tế liên quan đến tịch thu tài sản thì pháp luật Việt Nam mới đáp ứng được một phần các yêu cầu này. Cần bổ sung vào Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành quy định về công nhận và thi hành phần dân sự trong các quyết định, bản án hình sự của tòa án nước ngoài, đặc biệt là vấn đề liên quan đến tịch thu, hoàn trả tài sản do phạm tội tham nhũng mà có; Việt Nam tiếp tục ký kết các hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự với các nước, trong đó có nội dung nói trên.
2.6. Quy định của Công ước về bảo vệ nhân chứng, chuyên gia và nạn nhân (Điều 32 của Công ước): Điều 32 của Công ước gồm 5 Khoản, trong đó có 4 Khoản quy định bắt buộc.
Pháp luật Việt Nam về cơ bản đã đáp ứng các quy định này. Riêng khoản 3 là quy định khuyến nghị “Các quốc gia thành viên xem xét việc tham gia ký kết Hiệp định hoặc Thoả thuận với quốc gia khác để tái định cư những người đã đưa ra bằng chứng hoặc chứng thực liên quan đến các tội phạm quy định theo Công ước này và, nếu phù hợp, bảo vệ cả thân nhân và những người gần gũi với họ, khỏi những nguy cơ trả thù hay đe doạ”, pháp luật Việt Nam mới đáp ứng một phần. Việt Nam ký kết các hiệp định tư pháp có nội dung quy định về tái định cư cho các đối tượng cần được bảo vệ như nhân chứng, chuyên gia, những người đã cung cấp lời khai liên quan đến tội phạm tham nhũng; xây dựng luật bảo vệ nhân chứng có quy định nội dung nói trên.
2.7. Quy định về làm giàu bất hợp pháp (Điều 20 của Công ước): Đây là quy định tùy nghi.
Chính sách và pháp luật Việt Nam mới chỉ đáp ứng được một phần thể hiện qua các quy định mang tính phòng ngừa và góp phần phát hiện hành vi làm giàu bất hợp pháp trong Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 và trong Nghị định 37 năm 2007 của Chính phủ về kê khai tài sản. Tuy nhiên, hành vi làm giàu bất hợp pháp chưa được quy định là tội phạm trong Bộ luật hình sự năm 1999; việc yêu cầu công chức phải chứng minh nguồn gốc thu nhập của mình là không khả thi và không phù hợp với nguyên tắc suy đoán vô tội và quy định trách nhiệm chứng minh là của các cơ quan tố tụng. Tuy nhiên cần quy định nghĩa vụ giải trình về nguồn gốc tài sản đối với cán bộ công chức; khoa học pháp lý hình sự Việt Nam tiếp tục quan tâm nghiên cứu vấn đề hình sự hóa hành vi làm giàu bất hợp pháp.
2.8. Quy định về điều tra chung (Điều 49 của Công ước): Đây là quy định tùy nghi.
Pháp luật và thực tiễn Việt Nam hiện chưa đáp ứng yêu cầu này của Công ước. Đây là vấn đề không trái với nguyên tắc của pháp luật Việt Nam nhưng khó thực hiện trong giai đoạn hiện nay. Các cơ quan chức năng tiếp tục nghiên cứu, đánh giá khả năng đáp ứng của Việt Nam để đến thời điểm thích hợp, đưa quy định này vào Bộ luật tố tụng hình sự và các hiệp định song phương về tư pháp hình sự giữa Việt Nam với nước khác. Hiện tại, trước các đề nghị về điều tra chung của nước khác, Việt Nam sẽ đề nghị được tiếp nhận ủy thác điều tra để đảm bảo sự chủ động, trực tiếp và độc lập điều tra, sau đó thông báo kết quả cho phía bạn.
2.9. Các biện pháp về phòng chống rửa tiền: Điều 14 của Công ước quy định về phòng chống rửa tiền với 6 Khoản, trong đó có 2 Khoản (1a và 1b) là quy định bắt buộc. Các Khoản 2, 3, 4 và 5 là quy định tùy nghi.
Pháp luật Việt Nam đã đáp ứng về cơ bản các yêu cầu này vì Việt Nam đã ban hành hệ thống pháp luật tương đối toàn diện điều chỉnh các hoạt động trên lĩnh vực tài chính, ngân hàng có thể xảy ra hiện tượng rửa tiền, bao gồm Luật Ngân hàng nhà nước, Luật các tổ chức tín dụng, Luật kinh doanh bảo hiểm và các văn bản hướng dẫn thi hành. Đặc biệt, Nghị định số 74/2005/NĐ-CP ngày 7/6/2005 của Chính phủ về phòng chống rửa tiền đã quy định cụ thể vấn đề trên. Cần xây dựng Luật Phòng, chống rửa tiền; Phê chuẩn các Công ước quốc tế có nội dung về chống tội phạm rửa tiền.
2.10. Quy định về đảm bảo cơ chế điều tra thích hợp trong khi vẫn đảm bảo các quy định về bí mật ngân hàng (Điều 40 của Công ước): Đây là quy định bắt buộc.
Pháp luật Việt Nam đã đáp ứng về cơ bản yêu cầu này. Tuy nhiên cần hoàn thiện quy định nói trên khi xây dựng Luật phòng chống rửa tiền và sửa đổi, bổ sung Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành.
2.11. Quy định về việc thành lập cơ quan tình báo tài chính (Điều 58 của Công ước): Đây là quy định bắt buộc.
Pháp luật Việt Nam đã đáp ứng về cơ bản yêu cầu này, hiện Chính phủ đã thành lập trung tâm phòng chống rửa tiền thuộc Ngân hàng Nhà nước (đây là một dạng cơ quan tình báo tài chính). Cần hoàn thiện quy định trên khi sửa đổi, bổ sung Luật Phòng, chống tham nhũng hiện hành, Bộ luật tố tụng hình sự; xây dựng Luật phòng chống rửa tiền.
IV. TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC CƠ QUAN, TỔ CHỨC, ĐƠN VỊ TRONG VIỆC TRIỂN KHAI, THỰC HIỆN CÔNG ƯỚC
Phù hợp với thực tiễn Việt Nam và theo một lộ trình thích hợp, trong phạm vi trách nhiệm được pháp luật quy định, Chính phủ, Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao xây dựng đề án, kế hoạch và hướng dẫn việc nội luật hoá các quy định của Công ước trên cơ sở nguyên tắc Hiến pháp và pháp luật Việt Nam; ưu tiên ký kết và áp dụng các hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với các nước về phòng, chống tham nhũng, đồng thời, cụ thể hoá các văn bản pháp luật hiện hành để thực hiện các quy định của Công ước mà Việt Nam đã đáp ứng về cơ bản; các cơ quan, tổ chức hữu quan chủ động đưa nội dung của Công ước vào chương trình, kế hoạch hoạt động của mình gắn với nội dung của Chiến lược quốc gia về phòng, chống tham nhũng đến năm 2020.
Công ước không bắt buộc quốc gia thành viên phải sửa đổi hay xây dựng mới bất kỳ quy định pháp luật cụ thể nào sau khi phê chuẩn Công ước, nếu việc đó gây bất lợi cho quốc gia thành viên. Quá trình nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam hiện đã đáp ứng về cơ bản các quy định của Công ước. Tuy nhiên, để đảm bảo tốt hơn cho lợi ích quốc gia và nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam, yêu cầu đặt ra là: Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện thể chế về phòng, chống tham nhũng theo các Nghị quyết của Bộ Chính trị số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020; Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khoá XII; Nghị quyết số 21/NQ-CP ngày 12/5/2009 của Chính phủ ban hành Chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020.
Theo quy định của Công ước; căn cứ pháp luật hiện hành, Chínhphủ chỉ địnhThanh tra Chính phủ là cơ quan làm đầu mối quốc gia hỗ trợ thông tin với quốc tế trong phòng, chống tham nhũng; chỉ định Bộ Tư pháp, Bộ Công an và đề nghị Viện Kiểm sát nhân dân tối cao tiếp nhận và thực hiện các yêu cầu về tương trợ tư pháp theo quy định tại Luật Tương trợ tư pháp năm 2007. Chính phủ Việt Nam thông báo cho Tổng thư ký Liên hợp quốc về các nội dung bảo lưu, tuyên bố của Việt Nam, tên các cơ quan của Việt Nam làm đầu mối quốc gia hỗ trợ thông tin, tiếp nhận và thực hiện các yêu cầu tương trợ tư pháp và thông báo về việc Việt Nam sử dụng tiếng Anh làm ngôn ngữ yêu cầu tương trợ pháp lý./.
THANH TRA CHÍNH PHỦ
CÔNG ƯỚC CỦA LIÊN HỢP QUỐC VỀ CHỐNG THAM NHŨNG >> Tải về