|
(Thanh tra PCTN)- Cty Cổ phần Nông Lâm sản Hà Tĩnh (CTCPNLSHT) nguyên là Cty Rau quả Hà Tĩnh được thành lập đầu năm 2000, đóng tại địa bàn huyện Kỳ Anh (Hà Tĩnh). Nhưng, từ khi hoạt động cho đến nay, kết quả hoạt động của Cty luôn đi xuống. Nguyên nhân chính là do năng lực quản lý yếu kém, thiếu trách nhiệm; một số cán bộ đã dùng thủ đoạn biến tài sản của Cty để thu lợi cho từng cá nhân...
Điển hình là việc bàn giao đất rừng cho từng hộ gia đình và cá nhân nhận khoán, chăm sóc và bảo vệ rừng thông qua Nghị định 01/CP ngày 4/1/1995 (Ban hành bản quy định về việc giao khoán đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản trong các doanh nghiệp Nhà nước) và dự án (D.A) 327+661 của Chính phủ. Nghị định 01/CP của Chính phủ là khoán đất, trồng, chăm sóc bảo vệ rừng cho từng hộ gia đình và cá nhân với thời hạn 50 năm. Kinh phí để thực hiện việc chăm sóc, bảo vệ rừng do cá nhân tự bỏ. Còn tại D.A 327+661, kinh phí để thực hiện do Nhà nước bỏ ra thông qua Cty với thời gian ngắn hạn. Chủ rừng là CTCPNLSHT đại diện cho bên A (Đại diện bên giao khoán), còn một số cán bộ, hộ dân, công nhân trong Cty nhận khoán, chăm sóc và bảo vệ rừng đại diện cho bên B (Đại diện cho bên nhận khoán).
Một số cán bộ trong Cty và người dân thuộc xã Kỳ Trinh không đồng tình và phản ánh về những việc làm sai trái khi làm giả mạo giấy tờ từ hồ sơ Hợp đồng kinh tế 661 và 327 chuyển thành hồ sơ 01 để nhận tiền đền bù giải phóng mặt bằng của Cty Xuân Thành đang hoạt động trên địa bàn huyện Kỳ Anh.
Sự việc bắt đầu từ tháng 4/2009, Cty Xuân Thành xin UBND huyện Kỳ Anh và tỉnh Hà Tĩnh lấy một số lô đất rừng của CTCPNLSHT để dùng đất san lấp mặt bằng cho khu tái định cư của D.A Fomosa tại xã Kỳ Liên. Theo đó, Cty Xuân Thành phải chấp nhận bồi thường đất đai và tài sản trên đất theo pháp luật Nhà nước. Nhưng muốn tiền của Nhà nước “rơi” vào túi cá nhân để hưởng lợi, họ đã “biến hóa” Hồ sơ nhận khoán rừng từ 327+661 sang hồ sơ 01/CP.
Theo tài liệu mà Phóng viên thu thập được: Tại Danh sách các hộ nhận khoán và bảo vệ rừng 327+661 được lập ngày 6/2/2007 thì lô đất của bà Nguyễn Thị Nghĩa (nguyên là nhân viên CTCPNLSHT) có diện tích rừng bảo vệ 17,8 ha thuộc tiểu khu 380B khoảnh 3 lô 1+2+3+4+5+6 tại địa bàn xã Kỳ Trinh do CTCPNLSHT quản lý và hộ ông Nguyễn Viết Dũng có nhận 3 ha rừng bảo vệ thuộc tiểu khu 380B, tại khoảnh 3 lô 8+9+10+14 cũng nằm trên địa bàn xã Kỳ Trinh do CTCPNLSHT quản lý.
Qua đối chiếu hồ sơ, trong các “Hợp đồng kinh tế khoán bảo vệ rừng trồng 327+661” gồm có 25 hộ gia đình nhận khoán và bảo vệ rừng, gồm cả gia đình bà Nguyễn Thị Nghĩa và ông Nguyễn Viết Dũng. Nhưng khi Cty Xuân Thành lấy lô đất 1+2+3+4+5+6 của bà Nguyễn Thị Nghĩa và lô 8+9 của ông Nguyễn Viết Dũng để phục vụ cho D.A Fomosa thì không hiểu tại sao những mảnh đất này từ hồ sơ 327+661 trở thành hồ sơ 01/CP với thời hạn 50 năm và được nhận tiền đền bù từ Cty Xuân Thành với số tiền lên đến 431 triệu đồng. Điều đáng quan tâm ở đây là số tiền được hưởng lợi này không nộp cho CTCPNLSHT theo pháp luật mà bỏ vào túi cá nhân.
Thực tế, trong danh sách “Tổng hợp các hộ hợp đồng Nhận khoán đất - Trồng - Chăm sóc - Bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn theo Nghị định 01/CP của Chính phủ” gồm có 60 hộ gia đình nhưng không có hộ bà Nghĩa và ông Dũng. Thế nhưng, không hiểu sao khi chi trả tiền đền bù thì bà Nghĩa có hai bản Hợp đồng kinh tế số 53 và số 14 cũng giống như những hợp đồng của các hồ sơ 01/CP đều ghi “Giao đất nông nghiệp 50 năm” và “Hộ gia đình tự bỏ vốn đầu tư”. Như vậy, trong 25 lô đất được ghi trong danh sách ngày 6/2/2007 cùng một tổ thiết kế, một Giám đốc và Phòng sản xuất Lâm nghiệp ký và cùng thời gian lại lọt 2 bộ hồ sơ 53 và 14 của bà Nghĩa.
Đặc biệt, trong 60 bản Hợp đồng kinh tế 01/CP trên bản đồ thiết kế đều ký và ghi rõ 3 nhóm: 1- Ký và ghi tên Giám đốc Bùi Xuân Dương (nay đã nghỉ hưu); 2- Phòng sản xuất lâm nghiệp ký và ghi tên Lê Văn Huận (hiện là Giám đốc Cty); 3- Tổ thiết kế ký và ghi tên Đặng Bá Minh. Nhưng trong bản Hợp đồng của số 53 có sự khác thường so với hồ sơ 01 đó là tổ thiết kế có thêm Nguyễn Văn Thịnh ký và ghi tên. Còn Phòng sản xuất Lâm nghiệp chỉ có ký tên chứ không ghi rõ họ tên Lê Văn Huận. Và, trong bản Hợp đồng số 14 tổ thiết kế ký và ghi tên Nguyễn Văn Thịnh và Phòng sản xuất Lâm nghiệp chỉ ký tên chứ không ghi tên Lê Văn Huận. Như vậy hai bộ Hồ sơ của bà Nghĩa đem ra so sách với các hồ sơ 01/CP thì có những khuất tất.
Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Hồng Hải, Giám đốc Cty Xuân Thành cho biết: “Khi làm việc với CTCPNLSHT thì họ đưa cho chúng tôi bộ hồ sơ 01/CP, cứ dựa vào Luật Đất đai chúng tôi đền bù để kịp tiến độ của D.A, làm sao mà biết được hồ sơ thật hay là hồ sơ giả”. Khi PV hỏi “CTCPNLSHT có nhận được đồng nào về khoản tiền đền bù 431 triệu không?”, ông Hải nói: “Chúng tôi có đề cập đến vấn đề này, nhưng các cán bộ của CTCPNLSHT nói “vấn đề này giữa cán bộ Công ty và các hộ dân tự giải quyết nội bộ với nhau”. Mà, chúng tôi hoàn thành được D.A là được chứ những vấn đề nội bộ trong CTCPNLSHT chúng tôi không quan tâm”.
Còn ông Lê Văn Huận, Giám đốc CTCPNLSHT biện luận: “Việc làm giả mạo hồ sơ hay không giả mạo thì cấp dưới làm tôi hoàn toàn không biết và họ cũng không báo cáo với tôi. Đất của bà Nguyễn Thị Nghĩa gốc của nó không phải là đất 01/CP theo hồ sơ, thậm chí trong số tiền 431 triệu đồng, Cty chúng tôi không hưởng được một đồng nào”.
Ông Đặng Bá Minh, Trưởng phòng Lâm Sinh cho biết, phòng không có hồ sơ tài liệu 01/CP và 327+661. Còn khi chúng tôi hỏi: “Anh có chắp bút cho bộ hồ sơ số 53 và 14 của bà Nghĩa hay không? Ông Minh trả lời: “Do hồ sơ nhiều quá nên tôi cũng không nhớ nữa”.
Những khuất tất đằng sau bộ hồ sơ “lạ” của bà Nguyễn Thị Nghĩa chưa được làm rõ đã gây mâu thuẫn, bức xúc trong Cty. Đề nghị các cơ quan chức năng có thẩm quyền tỉnh Hà Tĩnh cần sớm kiểm tra, làm sáng tỏ. Ngoài những khuất tất này, còn một số việc làm thiếu minh bạch tại CTCPNLSHT chúng tôi sẽ tiếp tục điều tra và thông tin đến bạn đọc trong các số báo tiếp theo.
Nguyễn Cao Cường